Yesterday – Murakami Haruki (Phần 2)

Dịch từ bản tiếng Anh của Philip Gabriel

Tận cho tới khi tốt nghiệp phổ thông, tôi không nói gì khác ngoài giọng Kansai. Nhưng sau chỉ một tháng ở Tokyo, tôi đã hoàn toàn nói trôi chảy giọng phổ thông Tokyo. Tôi cảm thấy ngạc nhiên rằng tôi có thể thích nghi nhanh đến thế. Có thể là vì tính tôi dễ thay đổi. Cũng có thể vì năng lực ngôn ngữ của tôi tốt hơn nhiều người. Dù sao đi nữa thì bây giờ cũng không ai tin tôi đến từ Kansai.

Một lý do khác khiên tôi ngừng nói giọng Kansai là bởi vì tôi muốn trở thành một người hoàn toàn khác.

Trên đường đi tới Tokyo từ Kansai để học đại học, tôi dùng toàn bộ thời gian trên tàu Shinkansen để hồi tưởng lại mười tám năm đầu đời của mình và nhận ra những chuyện đã xảy ra thật đáng xấu hổ. Tôi không hề cường điệu. Tôi không muốn nhớ lại bất kỳ chuyện gì – mọi thứ thật đã diễn ra thảm hại. Càng nghĩ về cuộc đời mình cho đến lúc đó tôi lại càng chán ghét bản thân mình hơn. Không phải là tôi không có những kỷ niệm đẹp. Tôi đã từng có vài trải nghiệm hạnh phúc. Nhưng nếu cộng lại thì những chuyện xấu hổ và đau đớn nhiều hơn gấp bội. Khi tôi nghĩ về cách mà tôi đã sống và tiếp cận cuộc đời này, nó thật quá tầm thường và vô nghĩa. Toàn những rác rưởi của giai cấp trung lưu thiếu trí tượng tượng, tôi muốn gom hết lại rồi nhét vào một cái ngăn kéo. Hoặc là cho một mồi lừa rồi rồi nhìn nó bay hơi thành khói (nhưng là loại khói nào thì tôi cũng chịu). Dù sao đi nữa, tôi cũng muốn thoát hẳn ra và bắt đầu lại một cuộc sống mới ở Tokyo như một người khác hoàn toàn. Bỏ đi giọng Kansai la một phương thức thực tế (mà cũng mang tính biểu tượng) để hoàn thành mục tiêu đó. Bởi vì, xét cho cùng, thì thứ ngôn ngữ mà ta nói cấu thành con người chúng ta. Tối thiểu thì đó là cách mà tôi nhìn ở tuổi 18.

“Đáng xấu hổ? Chuyện gì đáng xấu hổ vậy?” Kitaru hỏi tôi.
“Tất tần tật.”
“Không hòa thuận với các cụ ạ?”
“Cũng khá hòa thuận” Tôi nói “Nhưng mà vẫn đáng xấu hổ. Chỉ việc sống cùng với họ khiến tớ thấy xấu hổ.”
“Cậu dị lắm, biết không?” Kitaru nói. “Tại sao phải xấu hổ khi sống cùng bố mẹ? Tớ thấy rất vui vẻ với bố mẹ tớ.”

Tôi không thể giải thích rõ ràng. Có gì không tốt khi có một chiếc Corolla sơn màu kem? Tôi không nói ra nổi. Bố mẹ tôi không quan tâm lắm đến việc tiêu tiền cho vẻ bề ngoài, thế thôi.

“Bố mẹ tớ thì suốt ngày càu nhàu về chuyện tớ lười học. Tớ ghét thế nhưng mà cậu làm gì được? Đó là công việc của họ. Cậu chỉ có thể bỏ qua thôi, hiểu không?”
“Cậu cũng khá dễ tính nhỉ?” Tôi nói.
“Cậu có em nào chưa” Kitaru hỏi.
“Giờ thì không.”
“Nhưng ngày xưa có rồi hả?”
“Cho đến gần ngay đây thôi.”
“Chia tay rồi à?”
“Đúng vậy, “ Tôi trả lời.
“Sao mà lại chia thế?”
“Chuyện dài lắm. Tớ không muốn nhắc lại.”
“Nàng cho cậu làm tới chưa?”
Tôi lắc đầu. “Chưa, chưa đến mức đó.”
“Chia tay vì thế à?”
Tôi nghĩ về chuyện đó. “Một phần là thế.”
“Nhưng nàng cho cậu đến được chốt 3 chưa?” (Chú thích: thuật ngữ bóng chày tới chốt 3 là chuẩn bị ghi được điểm)
“Cũng khoảng chốt 3.”
“Chính xác là đến đâu rồi anh bạn?”
“Tớ không muốn nói về chuyện đó,” Tôi nói.
“Là một trong những chuyện xấu hổ mà cậu nói đến à?”
“Ừ”. Tôi gật.
“Anh bạn ạ, cuộc đời cậu cũng phức tạp phết đấy”. Kitaru kết luận.

 

Đăng tải tại Dịch, Truyện ngắn | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Yesterday – Murakami Haruki (Phần 1)

Dịch từ bản tiếng Anh của Philip Gabriel

Theo chỗ tôi biết thì người duy nhất cho đến đến giờ đặt lời Nhật cho bài Yesterday của Beatles (đã thế còn viết trên thứ phương ngữ Kansai khác lạ) là một anh chàng tên là Kitaru. Hắn ta gào vang bản chế của mình khi đang tắm.

Ngày hôm qua
Là hai ngày trước ngày mai
Và là ngày tiếp theo của ngày hôm kia.

Nó được bắt đầu như thế đó, tôi nhớ lại, nhưng đã lâu rồi tôi không còn được nghe nữa và cũng không chắc đoạn tiếp theo như thế nào. Từ đầu chí cuối, lời hát của Kitaru hầu như là vô nghĩa, tào lao và không có chút dính dáng gì đến bản gốc. Giai điệu gần gũi, dễ mến và u sầu được gắn vào với giọng Kansai vui nhộn không chút văn vẻ tạo ra một thứ kết hợp kỳ quái, một sự chối bỏ thắng thừng những gì có thể kết hợp lại. Tối thiếu đó là những gì tôi nghe thấy được. Lúc đó tôi chỉ biết nghe rồi lắc đầu. Tôi có thể cười phá lên nhưng tôi cũng nhận ra được có chút gì đó ẩn dấu sâu bên trong.

Tôi gặp Kitaru lần đầu tại một quán cafe gần cổng chính của đại học Waseda, chỗ chúng tôi làm thêm, tôi làm trong bếp còn Kitaru là bồi bàn. Chúng tôi nói chuyện rất nhiều vào giờ nghỉ. Cả hai đều 20 tuổi, sinh nhật của chúng tôi chỉ mới vừa tuần trước.

“Kitaru là một cái họ hiếm đấy.” Có lần tôi bảo hắn.
“Chắc rồi.” Hắn trả lời bằng giọng Kansai đặc sệt.
“Đôi bóng chày Lotte có một tay ném bóng họ giống cậu đó”.
“Hai bọn tớ không có liên quan gì cả. Không phải là cái họ dễ gặp nhưng ai mà biết được phải không? Vớ vẩn lại có liên hệ đâu đó.”

Lúc đó tôi học năm hai ngành văn chương ở Waseda. Kitaru trượt đại học và đang học ở một lò luyện thi để chờ thi lại. Hắn đã trượt hai lần, nhưng bạn khó mà đoán ra được nếu chỉ nhìn cách hắn xử sự. Nhìn hắn không có vẻ như đang nỗ lực học hành. Khi rảnh rỗi hắn đọc rất nhiều nhưng toàn những thứ không liên quan gì đến thi cử – tiểu sử của Jimi Hendrix, sách cờ tướng, “Vũ trụ sinh ra thế nào?”, đại loại thế. Hắn bảo tôi hắn đi tới trường luyện thi từ nhà của bố mẹ ở khu Ota, Tokyo.

“Khu Ota?” Tôi ngạc nhiên “Thế mà tớ tưởng cậu quê ở Kansai”
“Không hề. Sinh ra và lớn lên ở Denenchofu”
Điều đó khiên tôi quá đỗi bất ngờ.
“Thế quái nào mà cậu lại nói giọng Kansai vậy?”
“Tớ đã luyện được đấy. Tớ đã quyết phải học cho bằng được.”
“Luyện?”
“Đúng, tớ đã học khá vất vả, có thấy không? Động từ, danh từ, cách nhấn nhá – mọi thứ. Giống như học tiếng Anh hay tiếng Pháp vậy. Tớ thậm chí còn đến Kansai để luyện giọng nữa đó.”

Vậy ra là có những người học tiếng Kansai như thể là một thứ ngoại ngữ. Đối vơi tôi nó như một tin chấn động. Nó làm tôi nhận ra Tokyo thật rộng lớn và có quá nhiều thứ tôi không hề biết. Nó nhắc tôi lại tiểu thuyết “Sanshiro”, một câu chuyện về một anh-chàng-nhà-quê-chính-hiệu-lên-tỉnh.

“Hồi còn bé tớ là fan bự của Hanshin Tigers.” Kitaru giải thích. “Tớ đi xem bất cứ khi nào họ chơi ở Tokyo. Nhưng khi tớ ngồi ở khu cổ động cho Hanshin và nói giọng Tokyo không ai muốn nói gì với tớ cả. Tớ không thể trở thành một phần của cộng đồng, hiểu không? Rồi tớ nhận ra, tớ sẽ phải học giọng Kansai, và tớ học như một con chó vậy.”
“Thế ra đó là động lực của cậu?” Tôi không thể tin nối.
“Chính xác. Hanshin Tigers có ý nghĩa với tớ như thế đấy,” Kitaru nói. “Bây giờ tớ chỉ nói giọng Kansai thôi – ở trường, ở nhà và cả khi ngủ nữa. Giọng Kansai của tớ nghe gần như hoàn hảo, cậu thấy thế không?”
“Chuẩn không cần chỉnh. Tớ đã tưởng cậu quê ở Kansai đấy“ Tôi nói.
“Nếu tớ bỏ công vào việc học thi đại học như đã bỏ ra để học giọng Kansai thì chắc tớ đã không thành thằng trượt hai năm liền thế này đâu.”
Hắn nói cũng có lý. Mà kể ra cách hắn tự than mình cũng ra dáng Kansai luôn.
“Thế cậu đến từ đâu?” Hắn hỏi tôi.
“Kansai. Gần Kobe,” tôi trả lời
“Gần Kobe? Chỗ nào thế?”
“Ashiya, “ Tôi đáp.
“Wow, tuyệt đấy. Sao cậu không nói từ đầu?”

Tôi giải thích rằng khi mọi người hỏi tôi đến từ đâu và tôi trả lời là Ashiya, người ta luôn tưởng rằng nhà tôi là một gia đình khá giả. Nhưng mà thực ra có đủ loại gia đình ở Ashiya. Ví dụ như nhà tôi không phải giàu có gì cho cam. Bố tôi làm cho một công ty dược còn mẹ tôi là thủ thư. Nhà tôi nhỏ và xe của chúng tôi chỉ là một chiếc Corolla sơn màu kem. Vậy nên khi người ta hỏi tôi luôn nói là gần Kobe và họ sẽ không có định kiến gì về tôi nữa.

“Này thanh niên, xem ra chúng ta giống hệt nhau” Kitaru nói “Nhà tớ ở Denenchofu – khu toàn nhà giàu – nhưng nhà tớ thuộc về chỗ tồi tàn nhất của khu ấy. Một ngôi nhà tồi tàn. Cậu nên đến vài lần cho biết. Cậu sẽ nói kiểu như là Hả? Đây mà là Denenchofu? Đếch thể nào! Nhưng mà lo lắng về mấy thứ như vậy không có nghĩa lý gì cả đúng không? Nó chỉ là cái địa chỉ thôi. Tớ làm ngược lại – Tớ nói thẳng tuột luôn là tớ đến Den-en-cho-fu. Để xem người ta nghĩ gì?”
Tôi thật sự thấy ấn tượng. Và sau đó chúng tôi trở thành bạn bè.

Chú thích:
1. Tiêu đề Yesterday lấy từ tên bài hát của nhóm Beatles do Paul McCarney sáng tác.
2. Hanshin Tigers: tên đội bóng chày nổi tiếng nhất ở Kansai.
3. Sanshiro: tiểu thuyết của Natsume Soseki


Đăng tải tại Dịch, Truyện ngắn | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Khách đi vé ngày 32 tuổi

Nguyên tác : Murakami Haruki
Bản tiếng Anh: Gabriel Rasa
Dịch: H.M

Tôi 32 tuổi còn nàng 18. Nghe đến là buồn.
Tôi chỉ mới 32 tuổi thôi còn nàng thì đã 18 rồi… Nói thế có phải hơn không.

Quan hệ của chúng tôi thật ra chỉ là một kiểu bạn bè đặc biệt, không hơn mà cũng chẳng kém. Tôi thì có vợ, nàng lại có tới 6 anh bạn trai. Nàng hẹn hò với mỗi người một ngày trong tuần và đi chơi với tôi vào một chủ nhật mỗi tháng. Những ngày chủ nhật khác nàng nằm ở nhà và xem TV. Lúc xem TV, nàng trông dễ thương như một con hải mã.

Nàng sinh năm 1963, năm mà Kennedy bị ám sát. Năm ấy tôi hẹn hò với con gái lần đầu tiên. Hình như bản “Summer Holiday” của Cliff Richard là bài hát nổi nhất lúc đó.
Mà thôi kệ đi.
Đằng nào thì nàng cũng được sinh ra vào thời điểm ấy.

Đương nhiên hồi đấy thì tôi chưa bao giờ nghĩ tới việc sẽ hẹn hò với một cô gái sinh vào năm đó, kể cả thậm chí bây giờ tôi vẫn thấy việc này thật quá kỳ quái. Giống như là chuyện vất vả leo lên mặt trăng rồi đứng đó hút xì gà vậy.

Các cô gái trẻ thường nhàm chán – tập hợp ý kiến từ đám bạn của tôi thì là như thế. Thế nhưng bọn nó vẫn hẹn hò với những em gái trẻ. Phải chăng cuối cùng thì bọn nó cũng tìm ra được một cô gái trẻ tuổi và thú vị? Hoàn toàn không. Sự thật là sự nhàm chán của các cô gái trẻ đã quyến rũ những người đàn ông kia. Bọn nó chơi một trò chơi rác rối, dội thứ nước nhàm chán xối xả vào đầu và che chắn khong cho chúng văng vào các cô gái của mình.

Hoặc chí ít đó cũng là cách mà tôi nhìn thấy.

Thực tế có tới 9 trên 10 các cuộc hẹn với các cô gái trẻ là tẻ nhạt mặc dù các cô không hay biết gì về chuyện đó. Các cô trẻ, đẹp và đầy lòng hiếu kỳ. Làm sao các cô có thể tượng tượng được rằng người khác nghĩ các cô là nhàm chán.
Ôi những người đàn ông.

Nói như thế không có nghĩa là tôi đang trách móc gì các cô gái hay tôi không thích họ. Hoàn toàn ngươc lại là đằng khác, tôi thích các cô ấy lắm. Họ làm tôi nhớ tới thời tuổi trẻ tẻ nhạt của mình. Chuyện này – biết nói sao đây – thật sự là kỳ tích.

“Này nói cho em nghe, anh có muốn quay lại tuổi 18 không?”
“Không,” Tôi trả lời. “Không muốn.”
Nàng nhìn tôi như thể nàng không thể hiều nổi tôi đang nghĩ gì.
“Ý anh là… không muốn?”
“Đương nhiên. “
“Tại sao lại không muốn vậy?”
“Cứ như bây giờ thôi cũng ổn rồi.”
Nàng tựa má vào bàn rồi trầm tư về chuyện đó. Trong lúc suy nghĩ, nàng xoay xoay cái muỗng trong cốc cà phê. “Em không tin đâu.”
“Em nên tin thì hơn.”
“Không phải tuổi trẻ là tuyệt nhất à?”
“Cũng có thể là thế.”
“Thế tại sao anh không muốn trẻ lại một lần nữa?”
“Vì một lần cũng quá đủ rồi.”
“Với em thì vẫn chưa đủ đâu”
“Em đã đủ 18 tuổi đâu.”
“Hmmm.”

Tôi vẫy cô hâu bàn và gọi thêm 2 cốc bia. Bên ngoài mưa đang rơi và chúng tôi có thể nhìn thấy cảng Yokohama qua khung cửa sổ.
“Này, hồi 18 tuổi anh thường nghĩ về chuyện gì?”
“Ngủ với các cô gái.”
“Còn gì nữa không?”
“Chỉ thế thôi.”
Nàng cười khúc khích và nhấp một ngụm cà phê.
“Thế có được không?”
“Lúc được, lúc không. Đương nhiên là thất bại nhiều hơn rồi.”
“Anh ngủ với bao nhiêu cô rồi?”
“Anh có đếm bao giờ đâu.”
“Thật hả? Tại sao không?”
“Thì anh không muốn.”
“Nếu em là con trai thì chắc chắn em sẽ đếm. Vui thế còn gì.”

Đúng ra là thỉnh thoảng tôi cũng nghĩ là chuyện trở lại tuổi 18 kể cũng không tồi. Nhưng tôi chẳng đoán nổi mình sẽ làm gì khi trở lại 18 tuổi một lận nữa. Có thể tôi sẽ hẹn họ với một quý cô quyến rũ 32 tuổi, được thế thì cũng hay.
“Chị có muốn quay về tuổi 18 không?” Tôi sẽ hỏi bà chị giả định ấy như thế.
“Xem nào..” Nàng mỉm cười và làm ra vẻ suy nghĩ về chuyện đó. “Không. Chắc là không.”
“Thật sao?”
“Thật.”
“Em không hiểu,” Tôi nói. “Mọi người đều bảo tuổi trẻ thật tuyệt vời.”
“Đúng thế, nó thật tuyệt.”
“”Thế sao chị không muốn trẻ lại một lần nữa?”
“Cậu sẽ hiểu ra khi cậu lớn lên.”

Nhưng bây giờ tôi đã 32 tuổi, nếu không chạy bộ một tuần thì bụng phát tướng ra ngay. Tôi không thể quay lại được tuổi 18. Ai cũng biết.
Tôi kết thúc cuộc chạy bộ buổi sáng, uông một ly nước rau, ngồi phịch lên ghế và nghe bản “Day Tripper” của Beatles.
“Daaaaaaaaaa-ay tripper~!”
Khi nghe những giai điệu đó, tôi nghĩ về con tàu vút qua những trụ điện thoại, nhà ga, đường hầm, cầu cống, bò, ngựa, ống khói, bãi rác,.. Những quang cảnh giống nhau ở bất kỳ đâu bạn đi qua. Hồi xưa tôi từng nghĩ nó thật quyến rũ, nhưng giờ thì…

Thứ thỉnh thoảng thay đổi là người ngồi kế bên tôi. Bây giờ ngồi cạnh tôi là một cô gái 18 tuổi. Tôi ngồi bên cửa sổ, cô ngồi cạnh lối đi.
“Cô có muốn đổi chỗ không?” Tôi hỏi.
“Cảm ơn ông,” cô nói, “Ông thật tốt quá.”
Không phải là tôi tốt bụng gì đâu, tôi cười cay đắng. Chỉ là vì tôi đã quen thuôc với sự nhàm chán hơn cô thôi.
Khách đi vé ngày 32 tuổi, đến việc ngồi đếm trụ điện thoại cũng đã trở nên nhàm chán.

Đăng tải tại Dịch, Truyện ngắn | Thẻ , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lý thuyết Galois I.3: Mở rộng trường (3)

Mệnh đề 1.1.23: Trường K và đa thức f(x) tối giản trên K. deg f = n. Ta có
1. L = K[x]/(f(x)) là trường và [L:K]=n.
2. Đặt a = x + (f(x)) thì f(a) = 0.
3. Một cơ sở của L trên K là B={1, a, a2,…an}
Chứng minh: 1. Sử dụng đinh lý đồng cấu đê chứng minh L đẳng cấu với một trường.
2. f(x+f(x)) = f(x) +(f(x))=(f(x))
3. Dùng 1 và chứng minh là độc lập tuyến tính.
Mệnh đề 1.1.24: L/K là trường khuếch đại, a∈L. Xét đa thức f(x) trên trường K khác 0 thỏa mãn f(a) = 0 và deg f(x) nhận giá trị nhỏ nhất, nếu bỏ qua bội hằng số của f(x) trên K thì f(x) là duy nhất. Nếu có g(x)∈K[x] thì f(x) chia hết cho g(x).
Gợi ý chứng minh: Chọn K-đồng cấu Ψ: K[x]→L thỏa mãn Ψ(x) = a, I = {p(x)|p(a)=0} = ker Ψ. a là phần tử đại số trên K nên I khác (0), K[x] là principal ideal domain (PID) nên tồn tại f(x) thỏa mãn I = (f(x)).
Từ mệnh đề trên nếu f(x) là monic (hệ số bậc cao nhất là 1) thì f(x) là duy nhất, gọi là đa thức tối tiểu của a trên K.
Hệ quả 1.1.25: L/K là trường khuêch đại, f(x) ∈ K[x] tối giản và monic. a∈L thỏa mãn f(a) = 0 thì f là đa thức tối tiểu của a trên K.
Ví dụ 1.1.26: Cho số nguyên d ≠ 1 không chứa ước số chính phương. √d∉Q. x2-d không chứa nhân tử bậc nhất trên trương Q do đó tối giản và là đa thức tối tiểu của √d trên Q. (nhưng lại không phải trên Q(√-1))
Định nghĩa 1.1.27: L, M là trường khuêch đại của K, a∈L có đa thức nhỏ nhất trên K là f(x). Nghiệm của f(x) thuộc M gọi là liên hợp của a trong M trên K hay đơn giản hơn gọi là liên hợp trên K.
Ví dụ 1.1.28: Cho số nguyên d ≠ 1 không chứa ước số chính phương. f(x) = x2-d là đa thức tối tiểu của √d. Liên hợp của √d trên Q là chính nó và -√d.
Mệnh đề 1.1.29: L/K là đại số khuêch đại, F/K là trường khuếch đại. a∈L, Φ∈HomalK(L,F). Khi đó Φ(a) là liên hợp của a, dẫn tới nếu g(x)∈ K[x] thỏa mãn g(a) = 0 thì g(Φ(a)) = 0.
Gợi ý chứng minh: Lấy f(x) là đa thức tối tiểu của a trên K.
Mênh đề 1.1.20: L/K là đại số khuếch đại. f(x) là đa thức tối tiểu của a∈L trên K bậc n. b là nghiệm của f(x) trên L, 3 mệnh đề sau thỏa mãn:
1. K[b] và K[x]/(f(x)) đẳng cấu.
2. f(x) là đa thưc nhỏ nhất của b. K(a) ≃ K(b).
3. {1, a, a2,…an} là cơ sở của L trên K
Gợi ý chứng minh: 1. Xét đẳng cấu thỏa mãn x + (f(x)) →b
2. Dùng hệ quả 1.1.25
3. Dùng mệnh đề 1.1.23

Đăng tải tại Toán | Thẻ , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

(Kinh tế học Schumacher) Small is still beautiful VI: Cái giá của mậu dịch tự do, Kẻ nhạt nhẽo dẫn dắt đám mù lòa

Khi nhìn vào sự khuyết thiếu của cơ chế giá cả để giải quyết những vấn đề khó khăn thực tế thật khó để nắm bắt lý thuyết kinh tế học như một thứ gì đó không hời hợt. Nhưng các nhà kinh tế học vẫn say mê mớ lý thuyết họ ủng hộ. Giống như Schumacher đã chú ý trong Small is beautiful, nó là chuyện kẻ nhạt nhẽo chỉ đường cho đám mù lòa. Do đó, liệu có thắc mắc rằng họ đang kêu gọi sự tự mãn trên bề ngoài của những vấn đề gây đau đầu nhất của hành tinh này?
Cùng với 3 quy chuẩn của kinh tế học chính thống- niềm tin vào sức mạnh thị trường, hi vọng “một vài thứ sẽ xuất hiên” và tình yêu vào sự phát triển kinh tế- hiếm có giáo điều nào thiêng liêng hơn mậu dịch tự do đối với kinh tê học truyền thống. Ít nhà kinh tế học chính thống nào nghi ngờ niềm tin rằng mậu dịch tự do luôn tốt và giới hạn thương mại hiển nhiên không tốt. Không có sự sỉ nhục nào với một nhà kinh tê xúc phạm hơn lời cáo buộc rằng anh ta ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch.
Với suy nghĩ ấy, cuộc trao đổi nóng tháng 3 năm 1993 tại một seminar tổ chức tại viện Escole des Hautes Estudes Commerciales lừng danh nước Pháp thật sự thú vị. Vào ngày đầu tiên của seminar, 500 sinh viên được nghe người thắng giải Nobel kinh tế Maurice Allais diễn thuyết. Có thể tưởng tượng được cảm giác shock của thính giả khi Allais tấn công giáo điều truyền thống rằng mậu dịch tự do thường có lợi. Ngượi lại, Allais cho rằng nó chỉ có lợi trong một vài hoàn cảnh nhất định. Lên án điều ước Maastricht, cũng là ám chỉ liên minh châu Âu, Allais khẳng định rằng mậu dịch tự do chỉ có ảnh hưởng tốt khi nó diễn ra giữa những nền kinh tế phát triển tương đương. Ông lên án kịch liệt “chính sách mậu dịch tự do của khối thịnh vương chung châu Âu”. Những lời của ông, đủ chua cay vào năm 1993, báo hiệu sự bất tường cho cuộc mở rộng khủng khiếp của EU khi thêm vào nhiều nên kinh tế đang vật lộn với khó khăn ở Trung và Đông Âu vào năm 2004.
Ý kiến của Allais không thể bị bỏ qua. 2 ngày sau Jacques Attali, chủ tịch ngân hàng phục hưng và phát triển châu Âu, tái khẳng định tư duy chính thống. Mọi quan điểm phản đồi mậu dịch tự do bị rủa xả dứt khoát là “ngu ngốc” va Attali khẳng định luôn “mọi vật cản của mậu dịch tự do là nhân tố dẫn tới suy thoái”.
Nhận xét về cuộc tranh luận này, Paul Ormerod chất vấn lời khẳng định giáo điều của Attali: “Đương nhiên có thể coi là trùng hợp ngẫu nhiên rằng ở vào thời điểm mà rảo cản giao thương trong cộng đồng châu Âu thấp nhất từ trước tới giờ-thật sự, nhiều chương trình công bố năm 1992 nhằm gỡ bỏ các chướng ngại mậu dịch đã được thực thi- châu Âu đang bước vào một cuộc khủng hoảng không lớn nhưng từ từ!”. Ý kiến phản đối của cử tri Pháp và Hà Lan về hiến pháp chung châu Âu là một dấu hiệu xa hơn cho thấy sự hoài nghi gia tăng ở trung tâm của EU.
Tuy vậy, mặc kệ những tiếng nói bất đồng và hoài nghi từ phía Allais, Ormerod và hàng triệu cử tri, đại đa số các nhà kinh tế tiếp tục ca vang điệp khúc “mậu dịch tự do luôn tốt và giới hạn thương mại luôn không tốt”.Đồng thanh với họ, William Hague, lãnh đạo của Đảng bảo thủ tại Anh sau này, bày tỏ niềm tin cá nhân vào mậu dịch thương mại toàn cầu vào ngày 17 tháng 9 năm 1999 khi ông ta kêu gọi xây dựng khu vực thương mại tư do xuyên Đại Tây Dương như một bước của tiến trình thương mại toàn cầu vào năm 2020. Tối thiểu người lành đạo đảng Bảo thủ này không hề lo lắng một tiếng nói phản đồi nào. Tony Blair cũng chia sẻ quan điểm tương đồng về mậu dịch tự do. 2 đảng lao động và bảo thủ cùng hướng tới một mục tiêu cơ bản này. Các cuộc tranh luận giữa những nhà lãnh đạo chỉ là về chính sách của ai sẽ tiếp cận được mục tiêu hiệu quả hơn. Tương tự, ở Mỹ những người bảo thủ chống lại mậu dịch không rào cản bị sỉ nhục và đặt ra ngoài lề.
Nhận thức kinh tế đúng đắn
Đương nhiên còn có những đồng thuận khác của các đảng phái về một số giáo điều kinh tế chính thống, đặc biệt là liên quan tới các đức tính cơ bản của kinh tế học. Do đó chẳng có gì ngạc nhiên rằng các chính trị gia sẽ tranh đấu với nhau xem ai có “nhận thức kinh tế đúng đắn” liên quan tới mậu dịch tự do cũng như phát triển kinh tế và sức mạnh thị trường. Không chính trị gia ôm tham vọng nào lại muốn bị buộc tôi rằng “nhận thức kinh tế không đúng đắn.”
Mậu dịch thương mại toàn cầu trở thành một giáo điều đạo không thể nghi ngờ được thờ phụng trong trái tim của lý thuyết kinh tế hiện đại. Do đó, chính trị gia và kinh tế gia không muốn đặt câu hỏi về niểm tin ấy và rồi thất bại trong việc đối mặt hay thậm chí chỉ là hiểu được ảnh hưởng của mậu dịch tự do của nên kinh tế thế giới đang thay đổi một cách chóng mặt. Nhưng với sự phát triển khoa học kỹ thuật nhanh chóng, có thể rằng sự toàn cầu hóa mậu dịch sẽ gây bất ổn cho nền công nghiệp cung lúc tăng thêm những vấn đề mới đối với các nước đang phát triển.
Giáo điều về mậu dịch tự do bắt nguồn từ thế kỷ 19 dựa trên những khái niệm tương quan về chuyên môn hóa và lợi thế cạnh tranh. Lý thuyết mậu dịch tự do quy định các quốc gia nên chuyên môn hóa vào những hoạt động kinh tế đem lại ưu thế cạnh tranh. Các chính phủ nên ngừng các hoạt động thiếu hiệu quả và phụ thuộc vào nhập khẩu. Chi phí cho nhập khẩu được trả bằng xuất khẩu thặng dư sản xuất trong quá trình chuyên môn hóa. Kết quả là sản xuất sẽ hiệu quả và năng suất hơn và do đó, xã hội phồn vinh hơn.
Sự thay đổi chóng mặt của thế giới trong vài thập kỷ qua đem lại những nghi ngờ cho lý thuyết trên. Công nghệ biến thị trường toàn cầu trở thành hiên thực, khác với môi trường lý thuyết. Điều này mang đến những hệ quả sâu rộng. Trong một vài năm qua, bốn tỷ người đã tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Thái Bình Dương và Liên Xô cũ đã nhảy vào, hoặc cố gắng nhảy vào, miền đất hứa của chủ nghĩa tiêu thụ toàn cầu.
Sớm muộn gì thì chuyện này cũng sẽ gây ra những gián đoạn ngiêm trọng. Giá lao động ở các nước đang phát trieenrchir bằng một phần 50 ở các nước phát triển và rất phát triển.Bởi vì những chuyển động tự do của công nghệ và dòng vốn đã “san bằng sân chơi chung”, những công nhân giá rẻ ở thế giới thứ 3 nay đã cạnh tranh trực tiếp được với những đồng nghiệp giàu có của họ ở châu Âu và Mỹ. Các công nhân ở Ấn Độ, Trung Quốc hay Bangladesh là thành phần của cùng một thị trường lao động toàn cầu giống những công nhân ở vương quốc Anh hay Hoa Kỳ. Ý nghĩa của nó rất rỗ rang. Hai doanh nghiệp giống nhau, một ở Ạnh quốc và một ở Việt Nam, sản xuất cùng một mặt hang, sử dụng cùng một công nghệ và cùng hướng tới một thị trường. Họ cùng sử dụng một dòng vốn quốc tế chung. Thật sự thì họ là thành phần của một tập đoàn đa quốc gia, Chỉ có một sự khác biệt: giá lao động ở Việt Nam chỉ bằng 1 phần 50 ở Anh. Một nhà kinh tế không cần nhìn cũng biết được đâu là doanh nghiệp sở hữu ưu thế cạnh tranh.
Ở những nước đang phát triển, quỹ lương cho lực lượng lao động chiếm khoàng từ 25 đến 30% doanh thu của công ty trung bình. Do đó nếu một công ty trung bình quyết định chỉ giữ lại trụ sở và đội ngũ chào hàng ở bản quốc trong khi chuyển công đoạn sản xuất sang một quốc gia đnag phát triển, công ty này sẽ tiết kiêm được 20% lợi tức. Có nghĩa là 1 công ty có doanh thu 500 triệu dollar hàng năm sẽ tăng 100 triệu dollar lợi nhuận trước thuế một năm. Thật sự rằng mậu dịch tự do không cho công ty này lựa chọn nào khác. Nếu như nó vì lòng yêu nước hay lương tâm xã hội hoặc quan tâm tới tương lai của đội ngũ lao động mà từ chối phương án này sẽ không thể nào cạnh tranh với những mặt hàng nhập khẩu từ những đối thủ ít lương tâm hơn. Sự lựa chọn ấy thật khăc nghiệt – mất gốc hoặc diệt vong.
Đương nhiên có thể tranh cãi rằng hiếm có sự phân chia vật chất công bằng ở phần nghèo hơn của thế giới mặc dù sẽ thật khó để nhìn ra cách lập luận chiên thắng đồng cảm hơn với các cử tri hay những nhân tố đại diện thương mại ở các nước cực phát triển. Trên thực tế, tuy nhiên, việc di chuyển tới các nước thê giới thứ ba làm giàu hơn cho các tập đoàn đa quốc gia mà không mang lại sự giàu có cho người dân ở các nước này.
Sử dụng nhân tố Micawber, các kinh tế gia sẽ chỉ ra rằng lượng công việc sản xuất mất đi sẽ được bù vào bằng công việc ở lĩnh vực dịch vụ hoặc công nghệ cao. Đây là lý thuyết thương mại trong thực tế, họ sẽ lập luận như vậy. Vì lợi thế cạnh tranh trong khâu sản xuất đã được chuyển tới các nước đang phát triển, các nước phát triển sẽ chuyên môn hóa vào ngành dịch vụ và công nghệ cao.Nhưng tầm nhìn này thật thiển cận. Trong tương lai gần công nghệ sẽ đẩy nhanh lĩnh vực dịch vụ đến các nước đang phát triển. Truyền hình vệ tinh sẽ biến việc hội đàm giữa các thành viên ở các vùng khác nhau trên thế giới thành hiện thực. Công nghệ chip siêu nhỏ sẽ giúp vốn được chuyển tới bất kì nơi nào trên thế giới trong khoảnh khắc. Tại sao một tập đoàn tài chính phải cố cắm rễ ở một toàn nhà tốn kém ở London, New York hay Paris khi họ có thể xây một tá cái khác ở các thành phố đang phát triển? Tại sao họ lại phải trả lương cao cho giới văn phòng ở châu Âu hay Mỹ trong khi chỉ phải trả một phần nhỏ cho những người khác để làm công việc tương tự? Một vài công ty lớn như Swissair đã chuyển một vài bộ phần chính của nó tới Ân Độ. Trong công cuộc toàn cầu hóa đang diễn ra, lợi thế cạnh tranh về công nghệ cao và dịch vụ, cũng giống như là sản xuất công nghiệp đã chuyển dịch tới thế giới thứ ba.

Phần 1
Phần 2 
Phần 3
Phần 4
Phần 5

Đăng tải tại Dịch | Thẻ , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lý thuyết Galois I.3: Mở rộng trường(2)

Định lý 1.1.12: Ch K = 0 thì K chứa Q. Ch K = p nguyên tố thì K chứa Fp.
Q, Fp gọi là trường nguyên tố
Xét khuếch đại trường L/K. S là tập con của L. Nếu S là tập hữu hạn {a1, … an}, thay xi=ai vào tất cả các phân thức hệ số K f(x1, … xn)/g(x1, … xn) (  g(a1, … an) ≠0 ) tạo thành một tập hợp gọi là K(S) hoặc K(a1, … an) . Nếu S là một tập hợp có vô hạn phần tử, lấy K(S) là hợp của tất cả các tập hợp K(S’) với S’ là tập con hữu hạn của S. K(S) là trường sinh ra bởi tập S trên trường K.
Xét trường con M1, M2 của trường L. K là trường nguyên tố chứa trong L. Trường sinh ra bởi M1, M2 trên trường K là trường con của L kí hiệu là M1・M2、gọi là trường hợp thành của M1 và M2. (còn ký hiệu là M1(M2) hoặc M2(M1).
Mệnh đề 1.1.13: Cho trường K và các khuếch đại L, M.
(1). S⊂L thỏa mãn L = K(S), Φ ,Ψ : L→M là K-đồng cấu. Nếu với mọi x thuộc S,  Φ(x) = Ψ(x) thì Φ=Ψ.
(2). S⊂L thỏa mãn L = K(S), Φ : L→M là K-đồng cấu thì Φ(K(S)) = K(Φ(S)).
Định nghĩa 1.1,14: L/K là khuếch đại trường.
(1). a∈L thỏa mãn L = K(a) thì L gọi là đơn khuếch đại của K.
(2) a1, … an∈L thỏa mãn L = K(a1, … an), L gọi là hữu hạn sinh thành trên trường K.
Ví dụ 1.1.15: Cho trường K. Xét trường hàm số hữu tỷ trên K K(a1, … an)là trường hữu hạn sinh thành trên K. Tuy nhiên thứ nguyên của khuếch đại là vô hạn.
Định nghĩa 1.1.16: L/K là khuếch đại trường, x∈L, tồn tại a1, … an∈K thỏa mãn xn+ a1xn-1+ …+an =0 thì x gọi là phần tử đại số trên K. Nếu x không phải là số đại số trên K thì x gọi là phần tử siêu việt trên K. Nếu mọi phần tử của L là phần tử đại số trên K thì L/K là đại số khuếch đại, nếu không thì gọi là siêu việt khuếch đại.
Mệnh đề 1.1.17 (giản lược chứng minh): L/K là đại số khuếch đại. a∈L thì (1) và (2) tương đương với nhau:
(1) a là phần tử đại số trên K.
(2) K[a]=K(a)
Hệ quả 1.1.18(giản lược chứng minh): (1)L/K là khuếch đại trường, M = {x∈L|x là phần tử đại số trên K} thì M là trường.(xem chứng minh ở các giáo trình đại số giao hoán)
(2) L/M, M/K là đại số khuêch đại thì L/K cũng là đại số khuếch đại. (xem chứng minh ở các giáo trình đại số giao hoán)
(3) L/K là hữu hạn sinh thành đại số khuếch đại thì cũng là hữu hạn thứ nguyên khuếch đại. (Dùng mệnh đề 1.1.17)
Mệnh đề 1.1.19: Hữu hạn thứ nguyên khuêch đại L/K là đại số khuếch đại.
Hệ quả 1.1.20: Siêu việt khuếch đại là vô hạn thứ nguyên khuếch đại.
Chứng minh: x∈L. Bậc (thứ nguyên, order) của L/K là n. 1,x,…, xlà phụ thuộc tuyến tính. Suy ra tồn tại  a1, … an∈K không đồng thời bằng 0 thỏa mãn a0 + … + anxn = 0 suy ra x là phần tử đại số trên K.
Mệnh đề 1.1.21: L/M, M/K là hữu hạn thứ nguyên khuếch đại thì L/K cũng là hữu hạn thứ nguyên khuếch đại và [L:K]=[L:M][M:K]
Gợi ý chứng minh: xét cơ sở của các không gian vector L, M  trên M,K để tạo ra cơ sở của không gian vector L trên K.
Ví dụ 1.1.22: Cho trường K và các khuếch đại L,F thỏa mãn [L:K]=2, [F:K]=3 thì L không phải là trường con của F.
Chứng minh: Nếu L là trường con của F thì [F:L]=3/2 không phải là số tự nhiên suy ra vô lý.

Đăng tải tại Toán | Thẻ , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Lý thuyết Galois I.2: Mở rộng trường (1)

I. Characteristic của trường
Xét đồng cấu f trên vành từ vành số nguyên Z đến một trường K f: n->n.1. Im(f) là vành con của trường K do đó là một integral domain. Định lý đồng cấu suy ra Z/Ker(f) ≃ Im(f) nên Z/Ker(f) là một integral domain, suy ra Ker(f) là một ideal nguyên tố trên Z, ta có Ker(f) = (0) hoặc Ker(f) = (p) với p là một số nguyên tố nào đó.
Định nghĩa 1.1.1: Ker(f) = (0) thì Characteristic của K là 0. Ker(f) = (p) thì Characteristic của K là p. Characteristic của K  ký hiệu là ch K.
Ví dụ 1.1.2: Q(x), R, C có characteristic là 0.
Ví dụ 1.1.3: p là số nguyên tố, tất cả các trường chứa trường Fp=Z/pZ có characteristic là p, ví dụ như trường phân thức trên Fp: Fp(x).
Bổ đề 1.1.4: Cho trường K. ch K = p > 0. n là số nguyên dương. q = pn .Với mọi x,y thuộc K, ta có: (x+y)q=xq+yq
Gợi ý chứng minh: Quy nạp theo n.
Định lý 1.1.5: Ch K = p, n là số nguyên dương.  q = pn . Ánh xạ Frobq: x→xq là đồng cấu trên trường.
Gợi ý chứng minh: dùng bổ đề 1.1.4 để Frobq(xy) = Frobq(x)Frobq(y). Frobq(0) = 0; Frobq(1) = 1 là hiển nhiên.
Hệ quả 1.1.6: Cho f(x) = aoxn+ a1xn-1+ …+an ∈ Fp[x], f(xp) = f(x)p.
Gợi ý chứng minh: Sử dụng định lý Fermat nhỏ và định lý 1.1.5.
Định nghĩa 1.1.7 : (1)Cho trường L và vành con của L là K. Nếu K là một trường thì K là trường con của L, L là trường khuếch đại của K. (Ký hiệu L/K là trường khuếch đại (mở rộng)).
(2) L/K là trường khuếch đại, trường con M ⊆ L chưa K thì M gọi là trường trung gian của L/K.
Nếu xem L là một không gian vector trên K thì thứ nguyên của không gian vector này ký hiệu là [L:K], là bậc khuếch đại của L trên K. [L:K] hữu hạn thì L/K là khuếch đại hữu hạn. [L:K] = ∞ thì L/K gọi là khuếch đại vô hạn.
Định nghĩa 1.1.8: Trường khuêch đại của trướng số hữu tỷ Q gọi là trường đại số.
Kí hiệu K đồng cấu, K đẳng cấu: tập hợp các đồng cấu trên K-đại số (K -algebra) từ A đến B viết là  HomalK(A,B); Tự đồng cấu trên K-đại số AutalKA; Tự đồng cấu trên vành A AutalA.
L1, L2 là trường khuếch đại của K. Vì mọi ánh xạ con của HomalK(L1,L2) đều là đơn ánh nên cũng là đồng cấu.
Ví dụ 1.1.9: Q là trường con của R. R là trường khuếch đại của Q. R là trường con của C, C là trường khuếch đại của R. C là không gian vector trên R với cơ sở là {1, i} do nên [C:R] = 2 hay C là khuếch đại bậc 2 của R.
Ví dụ 1.1.10: Cho số nguyên d ≠ 1 không chứa ước số chính phương. L = Q[√d] = {a+b√d∈C|a,b∈Q} là trường con của C. √d∉Q do vậy [L:Q]≥2. L được sinh ra từ {1, √d} suy ra [L:Q]=2.
Ví dụ 1.1.11: Cho trường K. Xét biến số x = (x1, … xn). A = K[x] là vành đa thức n biến. L = K(x) là trường phân thức n biến. A là không gian vector trên K với thứ nguyên ∞. A là integral domain suy ra L chứa A. Do vậy K(x)/K là vô hạn khuếch đại.

Đăng tải tại Toán | Thẻ , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?